Con nuôi và con đẻ có được kết hôn với nhau không? Mối quan hệ giữa họ có được pháp luật cho phép tiến tới hôn nhân? Đây là vấn đề nhạy cảm, gây nhiều tranh cãi trong xã hội. Công ty Luật TNHH Long Phước sẽ phân tích chi tiết quy định của pháp luật Việt Nam về việc kết hôn giữa con nuôi và con đẻ, đồng thời đưa ra những góc nhìn đa chiều về vấn đề này.

1. Con nuôi và con đẻ được hiểu như thế nào?
Căn cứ khoản 3 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 có quy định về con nuôi như sau:
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
3.Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.”
Theo đó, con nuôi được hiểu là người được nhận làm con nuôi và việc nhận con nuôi đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa về con đẻ, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu con đẻ là người có quan hệ huyết thống, được sinh ra bởi quan hệ giữa cha và mẹ. Mặt khác, pháp luật không phân biệt con đẻ và con ruột của vợ chồng mà chỉ quy định về con chung của vợ chồng. Cụ thể:
“Điều 88. Xác định cha, mẹ
1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.”
Như vậy, con đẻ được hiểu con đẻ trong mối quan hệ với cha mẹ là người được cha mẹ sinh ra có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
2. Các trường hợp cấm kết hôn tại Việt Nam?
Theo khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định các trường hợp bị cấm kết hôn như sau:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
- Yêu sách của cải trong kết hôn;
- Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
- Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
- Bạo lực gia đình;
- Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
3. Điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật Việt Nam
Khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có định nghĩa:
“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Theo Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc nam, nữ kết hôn cần phải đảm bảo được những điều kiện sau:
Thứ nhất, nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên;
Thứ hai, việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
Thứ ba, không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Thứ tư, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
Như vậy, nam nữ muốn kết hôn với nhau phải có đủ bốn điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 8, đồng thời phải không thuộc bốn trường hợp bị cấm kết hôn theo quy định của pháp luật.
4. Con nuôi và con đẻ có được kết hôn với nhau không?
Như đã phân tích ở trên, theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có đưa ra các điều kiện để được kết hôn và Khoản 2 Điều 5 cũng quy định các hành vi bị cấm trong hôn nhân gia đình. Trong các hành vi bị cấm, không có quy định nào cấm kết hôn giữa con nuôi và con đẻ.
Do đó, nếu con nuôi và con đẻ đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì họ có thể đăng ký kết hôn với nhau một cách hợp pháp. Tuy việc kết hôn giữa con nuôi và con đẻ không bị cấm tại Việt Nam, nhưng việc kết hôn giữa con nuôi và con đẻ thực tế hiện nay không phổ biến và không có số liệu thống kê cụ thể về thực trạng này.
Điều này là do quan điểm về đạo đức, văn hóa và xã hội, Việt Nam ta từ xưa đến nay rất coi trọng về các mối quan hệ trong gia đình và hôn nhân. Ngoài ra, có thể họ lo ngại về nguy cơ di truyền các bệnh tật nếu con nuôi và con đẻ kết hôn với nhau.
Tóm lại, mặc dù pháp luật Việt Nam không cấm, nhưng việc kết hôn giữa con nuôi và con đẻ trong cùng một gia đình cần được xem xét kỹ lưỡng về mặt xã hội, đạo đức và truyền thống gia đình để đảm bảo hạnh phúc và được sự chấp nhận từ cộng đồng xã hội.
Trên đây là những thông tin cần thiết Luật Long Phước chia sẻ tới Quý bạn đọc về việc kết hôn giữa con nuôi và con đẻ. Nếu có gì còn thắc mắc, vui lòng liên hệ TỔNG ĐÀI 0889.358.949 hoặc 0948.136.249 gặp Luật sư tư vấn luật trực tuyến của Công ty Luật TNHH Long Phước.
![]()

